Bài viết mới nhất

Showing posts with label Tiền ảo nâng cao. Show all posts
Showing posts with label Tiền ảo nâng cao. Show all posts
Đây là bản tiếng việt của sách (giấy) trắng của bitcoin - White Paper Bitcoin. Bản này được dịch từ bản gốc do chính Satoshi Nakamoto đưa lên bitcointalk. Hy vọng bản tiếng việt này sẽ giúp bạn hiểu về công nghệ Block Chain cũng như mục đích và những gì Satoshi muốn truyền tải thông qua bitcoin. Vậy sách trắng là gì ?
Sách trắng hay bạch thư (từ cổ) là một bản báo cáo hoặc bản hướng dẫn với mục đích giúp người đọc hiểu về một vấn đề nào đó, và ở đây chính là bitcoin - đồng tiền điện tử lớn nhất đã thống trị thế giới đến thời điểm hiện tại.
Lưu ý: Bài viết được biên dịch theo hiểu biết và ngôn ngữ của tôi, do đó không tránh khỏi việc sai sót so với bản gốc, mong bạn hiểu và thông cảm trước khi đọc


Chúng ta bắt đầu vào cuốn sách trắng bitcoin của Satoshi !

BITCOIN : HỆ THỐNG TIỀN TỆ ĐIỆN TỬ NGANG HÀNG

Satoshi Nakamoto
www.bitcoin.org

TÓM TẮT NỘI DUNG

Hệ thống tiền tệ điện tử ngang hàng là hệ thống cho phép các khoản thanh toán được gửi trực tiếp từ một thành viên tới một thành viên khác mà không cần thông qua các tổ chức tài chính. Các chữ ký số cung cấp một phần giải pháp hệ thống, nhưng những lợi ích chính sẽ bị mất nếu một bên thứ ba tin cậy vẫn được yêu cầu ngăn chặn gian lận double-spending (nôm na là hình thức gửi nhiều giao dịch nhanh chậm trước sau để lừa đảo). Chúng tôi đề xuất một giải pháp cho vấn đề double-spending sử dụng mạng lưới ngang hàng. Bằng cách băm thành chuỗi liên tục các "bằng chứng công việc" (proof-of-work) dựa vào bảng băm, các giao dịch sử dụng mạng lưới nhãn thời gian sẽ tạo thành một bản ghi mà không thể thay đổi nếu không làm lại "bằng chứng công việc". Chuỗi dài nhất sẽ không chỉ được dùng làm bằng chứng của chuỗi các sự kiện đã chứng kiến, mà còn chứng minh rằng nó đến chủ yếu từ sức mạnh của CPU. Miễn là phần lớn sức mạnh CPU còn được kiểm soát bởi các nút thật, chúng sẽ sinh ra chuỗi dài nhất và vượt qua những chuỗi tấn công. Bản thân mạng lưới giao dịch yêu cầu phải có cấu trúc tối thiểu. Các tin nhắn sẽ được truyền đi với hiệu quả tốt nhất, và các nút có thể rời khỏi rồi tham gia trở lại mạng lưới theo ý muốn, nhận chuỗi "bằng chứng công việc" làm bằng chứng cho những gì đã diễn ra khi các nút đó rời mạng lưới.

1, GIỚI THIỆU

Thương mại trên mạng Internet đã gần như hoàn toàn coi các tổ chức tài chính là bên thứ ba được tin cậy để xử lý các thanh toán điện tử. Trong khi làm việc khá tốt đối với hầu hết các giao dịch, hệ thống này vẫn tồn tại những điểm yếu cố hữu của mô hình tín nhiệm (the trust based model). Các giao dịch mà hoàn toàn không thể đảo ngược không phải bao giờ cũng đúng, vì các tổ chức tài chính không thể tránh được các tranh chấp trung gian. Chi phí trung gian làm tăng cao các chi phí giao dịch, hạn chế mức giao dịch tối thiểu và làm giảm khả năng giao dịch với các mức giao dịch nhỏ thông thường, và phải mất chi phí cao hơn để thực hiện các thanh toán không thể đảo ngược cho các dịch vụ không thể đảo ngược. Với khả năng đảo ngược, nhu cầu tín nhiệm đã lan rộng. Các thương gia phải thận trọng với khách hàng của họ, sách nhiễu họ bởi nhiều thông tin hơn bình thường họ cần. Một tỉ lệ gian lận nhất định đã được công nhận là không thể tránh khỏi. Các chi phí và thanh toán không chắc chắn này có thể tránh được bằng cách sử dụng tiền tệ vật lý, nhưng không có cơ chế nào tồn tại để thực hiện các thanh toán qua một kênh thông tin liên lạc mà thiếu một bên được tin cậy.

Vậy thứ ta cần là một hệ thống thanh toán điện tử dựa vào bằng chứng mật mã thay vì tín nhiệm cho phép hai bên sẵn sàng có thể giao dịch trực tiếp với nhau mà không cần đến một bên thứ ba trung gian nào cả. Các giao dịch được tính toán để không đảo ngược được sẽ bảo vệ người bán khỏi gian lận, và các cơ chế ký quỹ có thể được thực hiện dễ dàng nhằm bảo vệ người mua. Trong bài viết này, chúng tôi đề xuất một giải pháp cho vấn đề double-spending sử dụng máy chủ nhãn thời gian phân phối ngang hàng (bạn cứ hiểu như block-chain hay nôm na là cuốn sổ cái toàn cầu) để sinh ra bằng chứng tính toán cho các giao dịch theo thứ tự thời gian. Hệ thống này rất an toàn, miễn là các nút thật tập trung kiểm soát được phần sức mạnh CPU lớn hơn các nhóm nút của kẻ tấn công

2, CÁC GIAO DỊCH

Chúng tôi định nghĩa tiền điển tử là một chuỗi các chữ ký số. Mỗi chủ sở hữu chuyển đồng tiền cho người tiếp theo bằng cách ký số một bảng băm gồm giao dịch trước và khóa công khai của người sở hữu tiếp theo và thêm chúng vào cuối đồng tiền. Người được nhận tiền có thể xác nhận các chữ ký để xác nhận chuỗi sở hữu


Vấn đề ở đây tất nhiên là người nhận tiền không thể xác nhận rằng một trong những người sở hữu đã không thực hiện gian lận double-spend đối với đồng tiền. Sau mỗi giao dịch, đồng tiền sẽ phải trở lại nguồn cung cấp để xuất ra một đồng tiền mới, và chỉ có những đồng tiền được xuất trực tiếp từ nguồn cung cấp đó mới được tin là không gian lận. Vấn đề với giải pháp này là số phận của toàn bộ hệ thống tiền tệ phụ thuộc vào công ty cung cấp, tức là mỗi giao dịch phải đi qua đó, như một ngân hàng

Chúng ta cần một cách để người nhận tiền có thể biết rằng những người sở hữu trước đã không ký giao dịch nào trước đó. Đối với mục đích của chúng tôi, giao dịch đầu tiên sẽ là giao dịch thực hiện đếm, nên chúng tôi không quan tâm đến việc kẻ lừa đảo có cố gắng thực hiện các gian lận double-spend hay không.

Cách duy nhất để xác nhận sự vắng mặt của một giao dịch là phải nhận biết được tất cả các giao dịch. Trong mô hình dựa vào nguồn cung cấp, nguồn cấp phải quan tâm đến tất cả các giao dịch và quyết định giao dịch nào đến trước.

Để làm được điều đó mà không cần bên thứ ba tin cậy, các giao dịch phải được công bố công khai [1], và chúng ta cần một hệ thống để những người tham gia có sự đồng thuận về một lịch sử giao dịch duy nhất theo thứ tự mà họ đã được nhận. Người nhận tiền phải có bằng chứng rằng ở thời điểm thực hiện mỗi giao dịch, các nút trong mạng lưới phải đồng ý rằng đó là lần nhận đầu tiên.

3, MÁY CHỦ NHÃN THỜI GIAN

Giải pháp mà chúng tôi đề xuất bắt đầu với một máy chủ nhãn thời gian. Máy chủ nhãn thời gian làm việc bằng cách lấy một bảng băm của một khối các phần tử để gán nhãn thời gian rồi công bố rộng rãi bảng băm đó, giống như công bố qua một tờ báo chẳng hạn. Nhãn thời gian chứng tỏ rằng dữ liệu phải rõ ràng tồn tại ở thời điểm lưu trong nhãn thời gian đó -> để có thể được đưa vào bảng băm. Mỗi nhãn thời gian gồm nhãn thời gian liền trước trong bảng băm của nó, tạo thành một chuỗi, với mỗi nhãn thời gian thêm vào sau lại gia cố nhãn thời gian trước đó


4, BẰNG CHỨNG CÔNG VIỆC (Proof-of-Work)

Để thực thi hệ thống máy chủ nhãn thời gian phân phối trên cơ sở ngang hàng, chúng ta cần sử dụng một hệ thống bằng chứng công việc tương tự như Hashcash của Adam Back [6], chứ không phải là công bố qua các tờ báo. Bằng chứng công việc bao hàm việc quét một giá trị khi được băm, ví
dụ như với SHA-256, bảng băm bắt đầu với một số bit là 0. Mức công việc trung bình cần thiết là cấp số nhân của số bit 0 và có thể xác nhận bằng cách thi hành một bảng băm đơn.

Đối với mạng lưới nhãn thời gian, chúng tôi thi hành bằng chứng công việc bằng cách tăng thêm một số ngẫu nhiên (nonce) trong khối cho đến khi tìm thấy một giá trị cho bảng băm của khối số bit 0 đã yêu cầu. Một khi hiệu năng của CPU được sử dụng để thỏa mãn bằng chứng công việc, khối đó sẽ không thể bị thay đổi mà không thực hiện lại công việc. Khi các khối về sau được nối chuỗi vào nó, muốn thay đổi khối phải làm lại tất cả các khối sau nó nữa.


Bằng chứng công việc cũng giải quyết vấn đề xác định phản kháng trong việc đưa ra quyết định về phần đa số. Nếu phần đa số dựa vào một-địa-chỉ-IP-một-phiếu, thì có thể bị phá hỏng nếu ai đó có khả năng cấp phát nhiều địa chỉ IP. Bằng chứng công việc bản chất là dựa vào một-CPU-một-phiếu. Quyết định đa số được biểu diễn bởi chuỗi dài nhất, tức là chuỗi có hiệu quả làm bằng chứng công việc cao nhất. Nếu phần đa số của hiệu năng CPU được kiểm soát bởi các nút thật, chuỗi thật sẽ lớn nhanh nhất và vượt qua bất cứ chuỗi cạnh tranh nào khác. Để thay đổi được một khối đã qua, kẻ tấn công phải làm lại bằng chứng công việc của khối đó và tất cả các khối sau nó rồi bắt kịp và vượt qua công việc của các nút thật. Sau này chúng tôi sẽ chỉ ra rằng xác suất của một kẻ tấn công bắt kịp chậm hơn giảm theo cấp số nhân khi các khối tiếp theo được thêm vào.

Để bù cho việc tốc độ phần cứng ngày càng tăng và những lợi ích khác nhau trong việc chạy các nút theo thời gian, độ khó của bằng chứng công việc được xác định bởi số khối giao dịch trung bình mỗi giờ. Các khối đó được sinh ra càng nhanh thì độ khó càng tăng

5, MẠNG LƯỚI

Dưới đây là các bước vận hành của mạng lưới:
1, Các giao dịch mới được truyền đến tất cả các nút
2, Mỗi nút tập hợp các giao dịch mới vào một khối
3, Mỗi nút tìm một bằng chứng công việc khó cho khối của nó
4, Khi một nút tìm được bằng chứng công việc, nó sẽ truyền đến tất cả các nút khác.
5, Các nút chỉ chấp nhận khối nếu tất cả các giao dịch trong khối đó là hợp lệ và chưa được sử dụng
6, Các nút diễn đạt sự chấp nhận với khối giao dịch bằng cách tạo khối giao dịch tiếp theo trong chuỗi, sử dụng bảng băm của khối đã chấp nhận làm bảng trước

Các nút luôn xem chuỗi dài nhất là chuỗi đúng và sẽ mở rộng chuỗi đó. Nếu hai nút truyền hai bản khác nhau của khối tiếp theo cùng một lúc, một số nút sẽ nhận được một trong hai bản trước. Trong trường hợp đó, chúng sẽ sử dụng bản đầu tiên mà chúng nhận được, nhưng sẽ dùng nhánh còn lại trong trường hợp chuỗi đó dài hơn. Sự ràng buộc sẽ bị phá vỡ khi bằng chứng công việc tiếp theo được tìm thấy và một nhánh trở nên dài hơn, các nút đang sử dụng nhánh còn lại sẽ chuyển sang dùng nhánh dài hơn. (Đây là lí do vì sao còn 1 khuyết điểm - mạng lưới bị tấn công nếu ai đó chiếm hữu 51% tổng CPU toàn cầu)

Các giao dịch mới được truyền đi không nhất thiết phải đến được tất cả các nút. Miễn là các giao dịch đó vẫn đến được nhiều nút, chúng sẽ được thêm vào khối. Các khối truyền đi cũng có thể không đến được vài nút. Nếu một nút không nhận được một khối giao dịch, khi nó nhận được khối tiếp theo và nhận ra mình đang thiếu một khối, nó sẽ yêu cầu lại khối đó


6, ƯU ĐÃI

Theo quy ước, giao dịch đầu tiên trong một khối là một giao dịch đặc biệt bắt đầu một đồng tiền mới của người tạo khối giao dịch. Điều này thêm ưu đãi cho các nút để hỗ trợ mạng lưới, và để bắt đầu việc phân phối các đồng tiền vào dòng lưu thông khi không có trung tâm chịu trách nhiệm phát hành.

Việc thêm một số lượng đồng tiền mới nhất định cũng tương tự như những người khai thác vàng tiêu dùng nguồn tài nguyên để thêm vàng vào dòng lưu thông (nôm na là tạo ra giá trị là phải tốn chi phí - khai thác được vàng thì phải đánh đổi thứ gì đó). Trong trường hợp của chúng tôi, đó chính là tiêu dùng thời gian chạy CPU và điện.

Quỹ ưu đãi có thể được đóng góp bằng cách thu phí giao dịch. Nếu giá trị đầu ra của một giao dịch nhỏ hơn giá trị đầu vào, sẽ có một sự khác biệt là có một khoản phí giao dịch được thêm vào giá trị ưu đãi của khối chứa giao dịch. Khi có một số lượng tiền xác định trước tham gia vào dòng lưu thông, toàn bộ ưu đãi có thể chuyển tiếp thành phí giao dịch và hoàn toàn không bị lạm phát
(*Cắt nghĩa: Việc này có thể hiểu đơn giản là sự cân bằng, khi lượng tiền thiếu sẽ phát sinh chi phí giao dịch bù đắp vào, và ngược lại nếu lượng tiền thừa ra sẽ trở thành phí giao dịch trả cho máy đào coin)

Sự ưu đãi có thể giúp các nút không bị làm giả. Nếu một kẻ tấn công tham lam nào đó có thể tập hợp lượng sức mạnh CPU lớn hơn tất cả các nút thật, hắn sẽ phải chọn giữa việc sử dụng sức mạnh đó để lừa đảo mọi người bằng cách ăn trộm lại chính các thanh toán của mình, hoặc sử dụng để sinh ra những đồng tiền mới. Hắn phải thấy rằng chơi đúng luật sẽ có lợi hơn, những quy tắc có lợi cho hắn với nhiều đồng tiền mới được sinh ra hơn tất cả những người khác hợp lại - hơn là phá hoại chính hệ thống

7, CẢI THIỆN KHÔNG GIAN ĐĨA

Khi giao dịch mới nhất trong một đồng tiền được thêm vào sau một khối giao dịch vừa đủ, các giao dịch đã được sử dụng trước nó sẽ được loại bỏ để tiết kiệm không gian đĩa. Để thuận tiện hơn mà không phải phá vỡ bảng băm của khối giao dịch, các giao dịch được băm thành một cây Merkle (Merkle Tree) [7][2][5], trong đó chỉ có gốc nằm trong bảng băm của khối giao dịch. Các khối cũ sau đó có thể được nén lại bằng cách cắt các nhánh của cây đó. Không cần phải lưu các bảng băm ở phía trong

Tiêu đề của một khối mà không có giao dịch nào sẽ có kích cỡ khoảng 80 byte. Nếu chúng ta giả sử rằng các khối được sinh ra mỗi 10 phút, 80 bytes * 6 * 24 * 365 = 4.2 MB mỗi năm. Với các hệ thống máy tính với 2GB RAM của năm 2008, và định luật Moore dự đoán sức phát triển hiện tại là 1.2GB mỗi năm, không gian lưu trữ sẽ không phải là vấn đề nếu phần đầu các khối giao dịch được giữ trong bộ nhớ

8, ĐƠN GIẢN HÓA QUÁ TRÌNH XÁC NHẬN THANH TOÁN

Ta có thể xác nhận thanh toán mà không cần chạy một nút mạng đầy đủ. Người dùng chỉ cần giữ một bản sao của các tiêu đề (phần đầu) khối giao dịch của chuỗi bằng chứng công việc dài nhất, là chuỗi mà anh ta có thể lấy được bằng cách truy vấn các nút mạng cho đến khi anh ta tin chắc rằng anh ta đã có được chuỗi dài nhất, và có được nhánh Merkle liên kết giao dịch với khối giao dịch tương ứng. Anh ta không thể tự kiểm tra giao dịch, nhưng bằng cách liên kết giao dịch đó tới một vị trí trong chuỗi bằng chứng công việc, anh ta có thể thấy rằng một nút mạng đã chấp nhận nó, và các khối được thêm vào sau đó sẽ xác nhận rằng mạng lưới đã chấp nhận giao dịch này.


Như vậy, việc xác nhận là đáng tin cậy miễn là các nút thật vẫn kiểm soát mạng lưới, nhưng việc xác nhận sẽ có thể bị tấn công nếu mạng lưới bị những kẻ tấn công chế ngự. Khi các nút mạng có thể tự xác nhận các giao dịch, phương pháp rút gọn lại có thể bị lừa bởi các giao dịch tạo sẵn của những kẻ tấn công khi chúng có thể tiếp tục chế ngự mạng lưới. Chiến lược để chống lại việc làm này chính là nhận các cảnh báo từ nút mạng khi họ phát hiện ra một khối nào đó không hợp lệ, nhắc nhở phần mềm của người dùng tải toàn bộ khối giao dịch và các giao dịch có cảnh báo để xác minh sự mâu thuẫn. Các doanh nghiệp mà thường xuyên nhận thanh toán chắc hẳn vẫn muốn tự chạy các nút riêng của họ để có sự bảo mật riêng biệt và xác nhận nhanh hơn

9, HỢP VÀ TÁCH GIÁ TRỊ

Mặc dù ta có thể sử dụng những đồng tiền riêng lẻ với nhau, nhưng việc tạo ra các giao dịch riêng biệt cho mỗi đồng tiền trong một lần vận chuyển sẽ dẫn đến khó sử dụng. Để cho phép các giá trị có thể tách ra và hợp lại, các giao dịch sẽ chứa nhiều đầu vào và đầu ra. Thông thường sẽ có cả đầu vào đơn từ một giao dịch lớn hơn trước đó hoặc đầu vào đa hợp nhiều số lượng nhỏ lại, và hầu hết là hai đầu ra: một cho việc thanh toán, và một trả về sự thay đổi cho người gửi, nếu có

Lưu ý rằng việc tách các giá trị cũng không phải là vấn đề ở đây ngay cả khi một giao dịch dựa trên nhiều giao dịch khác nhau, và các giao dịch khác nhau đó lại dựa trên nhiều giao dịch khác nhau nữa. Không bao giờ là cần thiết khi trích xuất một bản sao độc lập hoàn chỉnh của lịch sử trong một giao dịch


10, SỰ RIÊNG TƯ

Các mô hình ngân hàng truyền thống đạt được một mức độ về sự riêng tư bằng cách giới hạn truy cập đến thông tin của các thành viên trong đó và thành phần thứ ba được tin tưởng. Sự cần thiết phải công bố tất cả các giao dịch một cách công khai loại trừ phương pháp này, nhưng sự riêng tư vẫn có thể được duy trì bằng cách ngắt dòng thông tin đến một nơi khác: bằng cách giấu tên các khóa công khai. Mạng lưới công khai có thể thấy rằng ai đó đang gửi một lường tiền cho ai đó khác, nhưng không có thông tin kết nối giao dịch tới bất cứ ai cả. Điều này tương tự như mức độ công bố thông tin giao dịch chứng khoán, trong đó thời gian và kích thước của các giao dịch cá nhân, các "băng", được công bố công khai, nhưng không cho biết các bên gồm những ai


Giống như thêm một bức tường lửa, một cặp khóa mới sẽ được sử dụng cho mỗi giao dịch để giữ liên kết từ mỗi giao dịch đó tới người sở hữu chung. Các giao dịch có đầu vào cũng không thể tránh được phải sử dụng một vài liên kết, vì các giao dịch đó cũng cần được biểu thị rằng chúng được sở hữu cùng một người. Sự mạo hiểm ở đây là nếu như người sở hữu của một khóa nào đó bị tiết lộ, thì các liên kết sẽ để lộ cả các giao dịch khác của người đó

11, TÍNH TOÁN

Chúng tôi đã xem xét kịch bản một của kẻ tấn công khi hắn cố sinh ra một chuỗi thay thế nhanh hơn chuỗi thật. Ngay cả khi làm được điều này, hệ thống cũng vẫn sẽ không bị mở để thay đổi tùy ý, như bí mật tạo ra một giá trị nào đó hoặc lấy tiền của người khác. Các nút sẽ không chấp nhận một giao dịch không hợp lệ là thanh toán, và các nút thật sẽ không bao giờ chấp nhận một khối giao dịch chứa các giao dịch đó. Một kẻ tấn công chỉ có thể cố gắng thay đổi một trong các giao dịch mà hắn sở hữu để lấy lại số tiền hắn mới tiêu xài

Cuộc đua giữa chuỗi thật và một chuỗi tấn công có thể mô tả như một bước ngẫu nhiên nhị thức (Binomial Random Walk).

  • Biến cố thành công là biến cố chuỗi thật được mở rộng thêm một khối, củng cố vị trí dẫn trước thêm 1
  • Biến cố thất bại là biến cố mà chuỗi tấn công được mở rộng thêm một khối, giảm khoảng cách đi 1

Xác suất một kẻ tấn công có thể bắt kịp từ một khoảng cách cho trước cũng tương tự như vấn đề về sự phá sản của một con bạc. Giả sử có một con bạc với mức tín dụng không giới hạn bắt đầu từ một mức thiếu hụt nào đó và chơi vô vàn những ván bạc để cố gắng hòa vốn. Chúng ta có thể tính được xác suất mà con bạc có thể hòa vốn, hoặc cũng là xác suất mà một kẻ tấn công có thể bắt kịp chuỗi bằng chứng công việc thật, như dưới đây [8]:

p  = xác suất một nút thật tìm thấy khối tiếp theo
q  = xác suất nút tấn công tìm thấy khối tiếp theo
az = xác suất kẻ tấn công có thể bắt kịp từ khoảng cách z khối giao dịch


Với giả định rằng p > q, xác suất giảm theo cấp số nhân khi số khối giao dịch cuả nút thật tăng lên, kẻ tấn công phải tăng khả năng bắt kịp nhanh hơn. Với sự chênh lệch chống lại hắn như thế, nếu hắn không may mắn, cơ hội của hắn sẽ tiêu tan dần và hắn sẽ càng tụt về xa hơn ở phía sau.

Bây giờ chúng ta xem người nhận trong một giao dịch mới sẽ phải đợi bao lâu trước khi chắc chắn rằng người gửi sẽ không thể thay đổi giao dịch. Giả sử người gửi là một kẻ tấn công đang muốn người nhận tin rằng hắn sẽ thanh toán ngay trong một thời gian ngắn, sau đó chuyển sang thanh toán lại cho chính mình sau khi một khoảng thời gian đã trôi qua. Người nhận sẽ được cảnh báo khi điều này xảy ra, nhưng người gửi (kẻ tấn công) thì hi vọng rằng thông tin cảnh báo sẽ đến muộn.

Người nhận sinh ra một cặp khóa mới và trao khóa công khai tới người gửi ngay trước khi ký. Điều này giúp ngăn chặn người gửi chuẩn bị chuỗi các khối giao dịch trước thời hạn bằng cách chạy chương trình liên tục cho đến khi may mắn có được đoạn chuỗi đủ dài, sau đó thi hành giao dịch ngay tại thời điểm ấy. Một khi giao dịch đã được gửi đi, kẻ lừa đảo đó sẽ bắt đầu bí mật làm một chuỗi song song chứa bản thay thế giao dịch của hắn ta.

Người nhận sẽ đợi cho đến khi giao dịch được thêm vào một khối giao dịch và z khối khác đã liên kết với nó. Anh ta sẽ không biết kẻ tấn công đã chạy chương trình được bao nhiêu, nhưng coi như mỗi khối giao dịch thật cần một khoảng thời gian trung bình, thì tiến độ của kẻ tấn công phải là một hàm phân phối Poisson với giá trị phải là:


Để có được xác suất mà kẻ tấn công có thể bắt kịp lúc bây giờ, chúng ta nhân hàm mật độ Poisson của mỗi bước tiến mà có thể hắn đã thực hiện với xác suất hắn có thể bắt kịp từ điểm đó:


Biến đổi biểu thức, ta có...


Chuyển sang ngôn ngữ C...

#include 
double AttackerSuccessProbability(double q, int z)
{
    double p = 1.0 - q;
    double lambda = z * (q / p);
    double sum = 1.0;
    int i, k;
    for (k = 0; k <= z; k++)
    {
       double poisson = exp(-lambda);
       for (i = 1; i <= k; i++)
       poisson *= lambda / i;
       sum -= poisson * (1 - pow(q / p, z - k));
    }
    return sum;
}

Chạy với một vài kết quả, chúng ta có thể thấy xác suất giảm theo hàm mũ với z.

q=0.1
z=0 P=1.0000000
z=1 P=0.2045873
z=2 P=0.0509779
z=3 P=0.0131722
z=4 P=0.0034552
z=5 P=0.0009137
z=6 P=0.0002428
z=7 P=0.0000647
z=8 P=0.0000173
z=9 P=0.0000046
z=10 P=0.0000012

q=0.3
z=0 P=1.0000000
z=5 P=0.1773523
z=10 P=0.0416605
z=15 P=0.0101008
z=20 P=0.0024804
z=25 P=0.0006132
z=30 P=0.0001522
z=35 P=0.0000379
z=40 P=0.0000095
z=45 P=0.0000024
z=50 P=0.0000006

Với P nhỏ hơn 0.1%...

P < 0.001
q=0.10 z=5
q=0.15 z=8
q=0.20 z=11
q=0.25 z=15
q=0.30 z=24
q=0.35 z=41
q=0.40 z=89
q=0.45 z=340

12, TỔNG KẾT

Chúng tôi đã đề xuất một hệ thống cho các giao dịch điện tử mà không cần dựa vào tín nhiệm. Chúng tôi đã bắt đầu với cơ cấu thông thường về tiền tệ làm bằng các chữ ký số, đó là một cơ cấu cung cấp những kiểm soát rất mạnh về sự sở hữu, nhưng chưa hoàn chỉnh nếu không có một phương pháp ngăn chặn double-spending. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã đề xuất một mạng lưới ngang hàng sử dụng bằng chứng công việc để ghi lại lịch sử công khai của các giao dịch mà những kẻ tấn công sẽ không thể tính toán để thay đổi được nếu các nút thật - kiểm soát được phần lớn sức mạnh CPU.

Mạng lưới đã mạnh mẽ trong sự đơn giản không cấu trúc của nó. Các nút làm việc cùng một lúc với sự phối hợp. Chúng không cần được xác định, khi các tin nhắn sẽ không định hướng đến một nơi cụ thể nào cả và chỉ cần được truyền đi một hiệu năng cơ sở cao nhất. Các nút có thể rời khỏi và tham gia trở lại mạng lưới bất cứ lúc nào, nhận chuỗi bằng chứng công việc làm bằng chứng cho những gì đã xảy ra khi các nút đó rời khỏi mạng lưới. Các nút sẽ xác nhận thông qua sức mạnh CPU, biểu diễn việc chấp nhận các khối hợp lệ bằng cách mở rộng các khối đó và loại bỏ các khối không hợp lệ bằng cách từ chối làm việc với chúng.

Các quy tắc và ưu đãi cần thiết được thi hành với cơ chế đồng thuận này.


Tài liệu liên quan
[1] W. Dai, "b-money," http://www.weidai.com/bmoney.txt, 1998.
[2] H. Massias, X.S. Avila, and J.-J. Quisquater, "Design of a secure times-tamping service with minimal trust requirements," In 20th Symposium on Information Theory in the Benelux, May 1999.
[3] S. Haber, W.S. Stornetta, "How to time-stamp a digital document,"In Journal of Cryptology, vol 3, no 2, pages 99-111, 1991.
[4] D. Bayer, S. Haber, W.S. Stornetta, "Improving the efficiency and reliability of digital time-stamping," In Sequences II: Methods in Communi-cation, Security and Computer Science, pages 329-334, 1993.
[5] S. Haber, W.S. Stornetta, "Secure names for bit-strings," In Proceed-ings of the 4th ACM Conference on Computer and Communications Security,pages 28-35, April 1997.
[6] A. Back, "Hashcash - a denial of service counter-measure,"http://www.hashcash.org/papers/hashcash.pdf, 2002.
[7] R.C. Merkle, "Protocols for public key cryptosystems," In Proc. 1980 Symposium on Security and Privacy, IEEE Computer Society, pages 122-133,April 1980.
[8] W. Feller, "An introduction to probability theory and its applications,"1957.
Bài viết sau dựa trên quan điểm cá nhân của Hugo Nguyen, nhà phát triển của Litecoin về thuật toán PoS và PoW:


Dưới đây là những lý do tại sao tôi cho rằng Ethereum và Proof of Stake (PoS- thuật toán bằng chứng cổ phần) là những ý tưởng tồi ?

  • Sổ cái Bitcoin bất biến không phải là phép thuật, nó là một tài sản đặc biệt chỉ đơn giản là nó phải trả một mức phí rất cao cho việc đào bằng PoW.
  • Những người ủng hộ PoS cho rằng họ có thể đạt được những tài sản bất biến tương tự mà không cần tốn những chi phí đào “lãng phí”.
  • Trong lịch sử công nghệ, từng xuất hiện sản phẩm tương tự PoS, được gọi là ý tưởng của Perpetual Motion Machine.
  • Vào khoảng thế kỷ 19- 20, nhân loại đã đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức để không ngừng tạo ra Perpetual Motion Machine mà không yêu cầu bất kỳ nguồn năng lượng nào.
  • Tương tự như vậy, PoS hứa hẹn tạo ra “một sổ cái bất biến” mà không đòi hỏi chi phí trả trước. Về cơ bản, nó tạo ra sổ cái có khả năng bảo mật mà không cần bất kỳ “năng lượng” nào.
  • “Sổ cái bảo mật” được sử dụng luân phiên với tính chất bất biến và khả năng chống lại các thay đổi hoặc sự giả mạo.
  • Giờ thì chúng ta đã hiểu vì sao máy Perpetual Motion không hoạt động. Bởi vì nó không tuân theo các định luật vật lý. Cụ thể là định luật bảo toàn năng lượng: “Năng lượng không thể tự sinh ra hay mất đi, nó chỉ có thể được chuyển từ dạng này sang dạng khác”.
  • Bạn không thể đạt được cái gì đó mà không bỏ ra một thứ tương đương. Đây là định luật tuyệt đối điều khiển vũ trụ của chúng ta.
  • Các Blockchain cũng tuân theo các định luật vật lý. Tất cả mọi thứ trong thế giới của chúng ta cuối cùng đều phải trở lại dưới dạng năng lượng, ở mức thấp nhất. Bạn là năng lượng. Tôi là năng lượng. Blockchain cũng là năng lượng. Đặc biệt:
  • “Sổ cái bảo mật” cũng là một dạng năng lượng. Điều này được thể hiện qua chi phí đào bằng PoW.
  • Tính “phi tập trung” là năng lượng, được thể hiện trong chi phí cần thiết (bao gồm chi phí cho việc lưu trữ, băng thông, định tuyến TCP / IP, v.v …) để chạy full node trên hệ thống và cho phép các node này truyền thông tin.
  • “Khả năng mở rộng” của blockchain là năng lượng, thể hiện qua các chi phí cần thiết để hỗ trợ giao dịch ngày càng nhiều trong mạng lưới.
  • Bạn có thể tưởng tượng blockchain là một hệ thống chất lỏng, nơi năng lượng có thể chuyển đổi giữa các tài sản với nhau. Bạn có thể chuyển “năng lượng phân quyền” sang “năng lượng mở rộng” và ngược lại. Bạn có thể chuyển đổi “năng lượng bảo mật sổ cái” thành “năng lượng mở rộng” và ngược lại.
  • Giá trị mang lại của một blockchain được ước tính gần bằng với chi phí năng lượng sản xuất ra nó. (Trên thực tế, giá trị này có thể thấp hơn chi phí sản xuất bởi sự khấu hao và những hoạt động không hiệu quả khác).
  • Điều mà bạn không thể làm là vừa duy trì các tài sản này vừa giảm tổng chi phí năng lượng.
  • Các duy nhất PoS có thể giảm chi phí năng lượng trong khi vẫn giữ nguyên các tài sản là phải chứng minh được “sự lãng phí” của PoW, và PoW không đóng góp bất cứ giá trị gì cho sổ cái bảo mật.
  • Tuy nhiên, PoW cũng có những đóng góp nhất định cho tính bảo mật của sổ cái, đây là sự thật 100%! Mỗi hoạt động “hash” trong PoW đóng vai trò đảm bảo tính bảo mật cho sổ cái. Trên thực tế, PoW giúp sổ cái bảo mật đưa ra những tính toán có tính định lượng cao và dễ dàng hơn. Chi phí viết lại các block X = chi phí đào các block X.
  • Kể từ khi PoS loại bỏ hàng tỉ đô la trong hoạt động đào nhằm đảm bảo chất lượng của sổ cái, nó phải chấp nhận sự thật rằng một blockchain PoS kém an toàn hơn. Một lần nữa, định luật bảo toàn năng lượng được áp dụng.
  • Như vậy, các thuật toán dài dòng PoS không có khả năng hoạt động trừ khi phá vỡ các định luật vật lý: đảm bảo tính bảo mật mà không tốn bất kỳ năng lượng nào.
  • Xem xét PoS dưới góc nhìn khác, có thể thấy PoS hướng tới mục tiêu đạt được tính chất “không thể thay đổi” thông qua ý tưởng “hình phạt”.
  • Ý tưởng là nếu bạn không hành động đúng, bạn sẽ phải chịu một hình phạt nặng. Những người ủng hộ PoS hy vọng rằng sự răn đe này sẽ ngăn chặn các cuộc tấn công của kẻ xấu. Tuy nhiên, điều này lại tạo ra một lỗ hổng nghiêm trọng.
  • Tính răn đe của hình phạt chỉ có thể hoạt động trong đời thực, bởi chỉ ở đó mới có một phiên bản thực tế “người thật việc thật”.
  • “Hình phạt” không được thực thi trong sổ cái phân tán. Mỗi nhánh của sổ cái là một phiên bản thay thế của thực tế.
  • Ý tưởng xử lý những kẻ xấu chỉ có tác dụng nếu chúng vẫn còn tồn tại trong cuộc sống thực của bạn.
  • Nhưng họ không cần thiết phải làm vậy. Chỉ bằng cách viết lại lịch sử, kẻ tấn công có thể xóa sạch mọi bằng chứng.
  • Trên thực tế, PoS chỉ có khả năng trừng phạt những kẻ tấn công sau khi họ đã thực hiện hành vi xấu. Khi đó đã là quá muộn.
  • Đây là một khác biệt lớn so với hoạt động đào bằng PoW, những kẻ tấn công buộc phải trả chi phí trả trước để đào những block đơn.
  • Việc kẻ tấn công phải trả chi phí trước hay sau khi thực hiện hành vi tạo ra khác biệt rất lớn. Khác biệt này nằm ở hàng tỷ đô la trong bảo mật.
  • PoS có thể khiến chúng ta quan tâm mặc dù nó không thực sự an toàn như PoW. Nhưng tôi không thực sự đồng ý với quan điểm này. Nếu bạn muốn thỏa hiệp về tính bảo mật sổ cái, thì bạn phải dung hòa với những thứ tạo ra sự đặc biệt của các blockchain đầu tiên.
  • “Lỗ hổng an ninh” của PoS thể hiện ở việc so với PoW nó yêu cầu nhiều hơn “social consensus” (đồng thuận xã hội – một ý tưởng cho sự can thiệp của con người bằng tay)
  • Kế hoạch của PoS là dựa vào “trách nhiệm xác minh của người dùng” với các bản cập nhật mới nhất. Họ có thể làm điều này thông qua việc hỏi bạn bè, các thợ đào block, các doanh nghiệp mà họ tương tác, … để có được thông tin về hash block gần đây trong chuỗi theo tiêu chuẩn.
  • Vitalik bào chữa cho điểm yếu của PoS bằng cách cho rằng PoW cũng đòi hỏi tính đồng thuận xã hội. Vâng, tất cả các hệ thống nhân tạo đều đòi hỏi một mức độ đồng thuận xã hội nhất định, không có ngoại lệ.
  • Hệ thống chính trị, giao thông vận tải, hệ thống ngân hàng, đồng đô la, Bitcoin … Tất cả các hệ thống này đều yêu cầu sự đầu tư của con người. Các hệ thống nhân tạo sẽ sụp đổ ngay lập tức nếu không có sự đồng thuận xã hội.
  • Khi PoS chỉ ra rằng PoW cũng cần đồng thuận xã hội đã cho thấy đây là một tranh cãi “ngu ngốc”. Điều quan trọng không phải là bạn cần sự đồng thuận xã hội hay không, mà là cần bao nhiêu, mức độ như thế nào?
  • Càng ít đồng thuận xã hội (can thiệp của con người) vào một hệ thống, nó càng mạnh mẽ và an toàn hơn. Mục đích là để tối đa hóa *bộ máy đồng thuận* nhằm loại trừ những thành kiến và sai lầm của con người.
  • PoW làm cho đồng thuận ở cấp độ máy móc là “chuyện nhỏ”. Khi có một fork xảy ra, nó sẽ chỉ cần chọn một máy có tích lũy cao nhất trên PoW. Quả thật, Bitcoin vẫn cần tới “đồng thuận xã hội” để tạo nên một hệ thống hoạt động trơn tru như ngày nay. Nhưng sau tất, nó chủ yếu là tự động.
  • Trái lại, trong PoS, bạn sẽ liên tục cần sự đồng thuận xã hội để giải quyết các “fork”. Rõ ràng, PoS cần nhiều “đồng thuận xã hội” hơn so với PoW.
  • Nhìn chung, thật khập khiễng khi so sánh PoW & PoS. Giống như đang so một đội bóng của NBA với đội tuyển trung học vậy.
  • PoW là một hệ thống được thiết kế để chống lại những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, trong khi PoS được thiết lập một cách mơ hồ che giấu các “lỗ hổng” chết người của nó. Một là nền tảng vững chắc cho tương lai, cái còn lại chả khác gì đồ chơi trẻ con.
  • Dường như nhiều người đang bỏ lỡ nhận định về: “Thế còn về sự đổi mới công nghệ? Khi so sánh ô tô và ngựa? Đèn LED so với đèn sợi tóc? Liệu đây có phải là những ví dụ về việc sử dụng ít năng lượng hơn để đạt được cùng một mục đích? “. Xin trả lời là không vì những trường hợp trên đều không có hiệu quả khai thác.

Nguồn Hugo Nguyen (LTC) – https://twitter.com/hugohanoi/status/952032379886977024

Fork là gì?

Fork là một từ kỹ thuật thường được dùng bởi các nhà phát triển (developers) của Bitcoin nói riêng hay trong giới lập trình nói chung mà cụ thể là trong các dự án mã nguồn mở. Nó đơn giản chỉ là “cập nhật phần mềm“ hay “sửa lỗi”. Ví dụ khi bạn cập nhật một ứng dụng trên chiếc smartphone (mobile app) thì bạn đã có được một bản Fork từ phiên bản cũ, thì khái niệm “Fork” trong Bitcoin cũng tương tự như vậy.

Đối với Bitcoin sẽ có hai khái niệm Fork khác nhau là: HardFork và SoftFork

HardFork là gì?

HardFork là một bản cập nhật phần mềm bắt buộc và sẽ gây xung đột với phiên bản cũ hơn. Chương trình bị Fork sẽ không chạy được nếu không cập nhật nó. Ví dụ, có một lỗi (bug) quan trọng trong phần mềm, nếu muốn tiếp tục sử dụng thì cần phải cập nhật phần mềm.

Nếu không cập nhật – sẽ không sử dụng được chương trình. Ngoài ra, không có cách nào để đảo ngược một HardFork ,trừ trường hợp có một số lỗi không mong đợi hay các vấn đề đi kèm. Đó là trường hợp sẽ phải làm thêm một HardFork và trở lại với phiên bản cũ.

SoftFork là gì?

SoftFork là một bản cập nhật phần mềm không gây xung đột với phiên bản cũ hơn, nó không bắt buộc và cho phép mạng điều chỉnh thêm các tính năng mới trong khi đang xử lý. Mặc dù một SoftFork đang cài đặt ngay cả khi máy tính chạy với chương trình cũ thì vẫn có thể sử dụng.

Nếu SoftFork không hoạt động, có lỗi hay mọi người không chấp nhận nó thì nó hoàn toàn có thể đảo ngược và có thể trở lại với phiên bản cũ. Hầu hết các phần mềm bạn sử dụng ngày nay đều được kiểm soát bởi một thực thể duy nhất. Vì vậy, bất kỳ khi nào họ muốn “Fork” từ chương trình gốc thì chỉ cần cập nhật dưới hình thức một SoftFork.

Bitcoin là phi tập trung – không có trung tâm quản lý. Đó lý do tại sao bạn có một số vấn đề gây tranh cãi về những đòi hỏi – yêu cầu một bản cập nhật, đó là vấn đề của cộng đồng Bitcoin về thực hiện một bản cập nhật. Nếu người dùng Bitcoin không đạt được một sự đồng thuận rộng rãi thì sẽ không một “Fork” diễn ra.

Vấn đề lớn nhất của Bitcoin là gì?

Vấn đề lớn nhất hiện tại của Bitcoin từ khi ra đời đến giờ là đến từ kích thước khối (block) không đủ để đáp ứng cho số lượng giao dịch của người dùng. Giao dịch Bitcoin mất quá nhiều thời gian và phí giao dịch quá lớn so với trước đây. Blockchain bao gồm các khối thông tin giao dịch được sao lưu liên tiếp hay còn gọi là “sổ cái” ghi chép lại tất cả các giao dịch đã diễn ra trong mạng từ trước cho đến hiện tại, giống như mạch máu của cryptocurrency trong thế giới tiền điện tử vậy

Và vấn đề hiện tại ở đây là các khối đó có một giới hạn là 1 Megabyte (MB). Kích thước này không đủ để sao lưu và tính toán hàng trăm giao dịch mà mỗi người dùng đang cố gắng gửi tiền trong một phút. Do đó, phần lớn mọi người phải chờ đợi cho đến khi giao dịch của họ được xác nhận (pending), thậm chí là hàng giờ hoặc thậm chí cả mấy ngày.

Thời gian để thực hiện một giao dịch liên quan trực tiếp đến kích cỡ block tại thời điểm hiện tại. Nếu bạn muốn giao dịch diễn ra nhanh hơn, bạn cần trả phí giao dịch cao hơn. Trong khi quy mô của mạng càng ngày càng phát triển, cường độ giao dịch cũng tăng lên, còn kích thước khối thì vẫn cứ giữ nguyên. Điều đó khiến cho thời gian giao dịch càng ngày càng chậm cũng như phí giao dịch càng ngày tăng cao, có nghĩa là vấn đề này càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn theo thời gian.

Lúc này Segwit và Segwit 2x ra đời để giải quyết vấn đề lớn nhất này của Bitcoin.Thế Segwit là gì? Và Segwit 2x là gì? Bạn tiếp tục theo dõi phân dưới nhé.

Segwit là gì?

SegWit là 1 thuật ngữ được viết tắt từ Segregated Witness (các nhân chứng bị tách rời), là một bản cập nhật dành cho Bitcoin được đề xuất bởi nhóm phát triển Bitcoin Core, và được tạo ra với mục đích khắc phục hoặc hạn chế các vấn đề còn tồn đọng của Bitcoin.

Hiện tại thì Bitcoin Core đang có lượng khách hàng sử dụng để giao dịch Bitcoin phổ biến nhất, được sử dụng bởi đa số doanh nghiệp và các quốc gia phát triển nhưng đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng của Bitcoin như đã nêu ở trên. Sau khi Segwit, người dùng phiên bản Bitcoin Core cũ vẫn có thể hoạt động giao dịch ngay cả khi họ không cập nhật phần mềm Bitcoin Core mới phiên bản 0.13.1.

SegWit giải quyết vấn đề quy mô của Bitcoin như thế nào?

Mục tiêu của Segwit đối với Bitcoin là điều chỉnh lượng lại thông tin cần được lưu trữ trong từng block, điều này có thể được thực hiện qua một quá trình Soft Fork (thay đổi giao thức Bitcoin khi mà chỉ những block giao dịch cũ mới bị coi là không hợp lệ. Đồng thời, các nút (nodes) cũ sẽ chấp nhận các block giao dịch mới là hợp lệ nên Soft Fork có thể tương thích ngược – tức là bản mới có thể làm việc cùng với bản cũ – vì vậy nên Soft Fork chỉ cần đa số các thợ mỏ đồng ý nâng cấp để thi hành luật mới cho Bitcoin)

Như vậy, Segwit chỉ yêu cầu Soft Fork mà không cần Hark Fork, và có thể được thực hiện nhanh và sẽ không chia Blockchain của Bitcoin ra làm 2 (vì khả năng tương thích ngược của Soft Fork).

Đây sẽ không phải là giải pháp tuyệt đối và vĩnh viễn cho Bitcoin vì kích cỡ block không tăng nên dù có điều chỉnh thế nào lượng thông tin lưu trữ cũng sẽ đến lúc phải đầy, và khi đó vấn đề hiện tại lại xảy ra trong tương lai không xa, đặc biệt khi mà lượng giao dịch Bitcoin hiện tại tuy lớn, nhưng thực ra chưa đáng kể so với giao dịch tiền thật trên thế giới.

Tuy vậy, cũng có nhiều người cho rằng một giải pháp vĩnh viễn là chưa thật sự cần thiết tại thời điểm này, hiện giờ chỉ cần tăng tốc độ giao dịch là được rồi.

Nếu Segwit được thực hiện, Segwit sẽ còn mở ra khả năng phát triển Bitcoin xa hơn bằng giao thức Bitcoin dưới dạng “Lighting Network”.
Tóm lại, Segwit bao gồm trong nó 2 phần:
  • Thứ nhất, Segwit có thể điều chỉnh lại lượng thông tin cần được lưu trữ trong từng block.
  • Thứ hai, Lightning Network là một trong những giải pháp được đề xuất, được kỳ vọng là sẽ tạo ra sự gia tăng đáng kể lưu lượng của mạng lưới nhờ việc điều phối phần lớn các giao dịch ra khỏi Blockchain và xử lý chúng một cách nhanh chóng hơn.
Hiện nay bản phần mềm mới nhất của Bitcoin Core đã khiến cho SegWit trở thành sự chọn lựa tốt đối với các người thợ mỏ

Lý do là người bảo trì chính tên là Wladimir van der Laan đã ra một thông cáo báo chí tới cộng động, bản phần mêm mới cho phép những người đào Coin nào mà chưa chạy phần mềm tương thích SegWit vẫn có thể tiếp tục làm việc binh thường sau khi bản nâng cấp này được áp dụng trên toàn bộ mạng lưới Bitcoin.

Điều này cho phép những người đào Coin không thuộc Segwit tiếp tục vận hành bình thường ngay cả khi Segwit đã được kích hoạt.

Segwit2X là gì?

Khi nhiều đề xuất mở rộng quy mô Bitcoin đang tiến gần đến hạn chót của mình thì một đề xuất khác xuất hiện mang tên gọi SegWit2x từ những người đào Coin tại sự kiện New York Agreement (NYA), có lẽ đang nhận được nhiều sự chú ý từ cộng đồng hơn.

Lần đầu tiên được đề xuất vào tháng 5/2017, kế hoạch SegWit2x đã nhận được sự ủng hộ của nhiều startup cũng như hội đào Coin. Tuy nhiên, SegWit2x vẫn có nhiều tranh cãi về tính khả thi của nó. Và đặc biệt là SegWit2x không được đề xuất hay cũng như nhận được sự ủng hộ từ Bitcoin Core (đội ngũ phát triển chính của mạng lưới Bitcoin hiện nay).

Mặc dù SegWit2x không phải là giải pháp mở rộng quy mô Bitcoin được đề xuất đầu tiên. Thế nhưng SegWit2x có một vài điểm khác biệt nhỏ so với các các giải pháp trước đó. Thực tế, SegWit2x không dựa trên sáng kiến mới mà được tổng hợp và chắt lọc lại từ những đề xuất trước đó. Thật sự là để hiểu hết bản chất của đề xuất SegWit2x là một thách thức kể cả đối với những người có kiến thức chuyên sâu. Nhưng mình sẽ cố găng tóm lược những ý chính cơ bản nhất để ai cũng có hiểu được.

Bản kế hoạch của SegWit2x sẽ nâng cấp Bitcoin theo hai giai đoạn

Đầu tiên, nó sẽ triển khai SegWit thực hiện bằng một cuộc Soft Fork như đã được đề xuất của nhóm Bitcoin Core. SegWit sẽ giúp gia tăng lượng thông tin giao dịch mà có thể được lưu trong một block mà không cần phải mở rộng kích thước block ra. Bên cạnh đó, nó cũng hỗ trợ tính linh hoạt cho các giao dịch, nếu được giải quyết ổn thỏa thì sẽ giúp cải thiện mạng lưới lên rất nhiều.

Giai đoạn thư hai là tăng kích thước block trong mạng lưới Bitcoin từ 1 MB lên thành 2 MB, dự kiến bắt đầu 3 tháng sau khi SegWit thành công. Gia tăng kích thước block là phương án mở rộng quy mô mà đã được đề xuất từ rất lâu rồi đơn giản chỉ là việc nâng cấp phần mềm hệ thống để nó cho phép tích hợp các block có kích thước 2 MB. Một vài đề xuất tương tự khác trước đây như Bitcoin XT, Bitcoin Classic và Bitcoin Unlimited cũng từng nổi lên nhưng sau đó lại lắng xuống vì không nhận được sự ủng hộ đủ lớn từ cộng đồng. Nhưng một đối thủ đáng gờm với giải pháp SegWit2x mới đây xuất hiện là Bitcoin Cash hứa hẹn cho phép mở rộng kích thước Block lên 8MB đang dần được gây chú ý.

Tóm lại có thể hiểu Segwit2x chính là Segwit cộng với 1 đợt Hark Fork kích thước khối lên 2MB nhưng mong muốn không gây chia rẽ cộng đồng Bitcon.

Liên kết từ khóa

bí ẩn

Đăng ký theo dõi qua Email

với

MysTown deep web

Đăng ký bằng email của bạn để nhận được tin mới nhất từ chúng tôi.

Liên hệ với chúng tôi

|

MysGroup

Gửi tin nhắn cho chúng tôi.

Cong dong 360 188bet phụ tùng xe tải phụ tùng howo phụ tùng trung quốc Review phim AZ Tiem Nguyen Cách Làm các món ăn Game Download phần mềm miễn phí Tải phần mềm Hottrends.today Link vào W88 mới nhất - phục vụ World Cup 2018 Bất động sản Group Giới thiệu website review sách mới thuộc hệ thống website được sở hữu bởi MysGroup | Kệ Sách Online Nemo Shirt Giới thiệu website tư vấn online được sở hữu bởi MysGroup | Tư Vấn Tốt Giới thiệu website bán cá ngựa tại TPHCM| https://canguacondao.com
  • MysTown Beta Version II | Copyright © 2017